MINH BẠCH - THÂN THIỆN - TRÁCH NHIỆM - HIỆU QUẢ

VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC LIÊN KẾT KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam bao gồm 8 tỉnh, thành phố gồm thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Đồng Nai và Tiền Giang. Diện tích tự nhiên toàn vùng là 30.524 km2, chiếm 9,2% diện tích cả nước. Dân số toàn vùng đến cuối năm 2016 có 19,7 triệu người, chiếm 17,7% dân số cả nước.

            Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; là vùng hội tụ đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt là phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện, điện tử, công nghiệp dầu khí; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.    

  1. Đánh giá thực trạng liên kết kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam từ 2005 đến nay, kết quả tác động của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đối với các tỉnh thành trong vùng

Trong quá trình hình thành và phát triển, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cùng các vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước đã và đang phát huy lợi thế, tạo nên thế mạnh của mình theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước, không chỉ tạo ra động lực thúc đẩy sự chuyển dịch nhanh cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo đúng định hướng mà còn góp phần ổn định nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành lân cận trong vùng.

Hơn 10 năm qua (từ năm 2005), với chỉ đạo của Trung ương, cùng nỗ lực phấn đấu của các tỉnh, thành trong vùng và sự tham gia tích cực của Ban Chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm để thực hiện Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện nghị quyết số 53-NQ/TW; kinh tế toàn vùng đã có mức tăng trưởng ổn định, cao hơn mức tăng trưởng chung của cả nước trên 1,5 lần[1]. Cơ cấu kinh tế vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã có bước chuyển dịch nhanh và đúng định hướng theo xu thế giảm dần tỉnh trọng GDP khu vực nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp và khu vực công nghiệp – xây dựng, tăng dân tỷ trọng GDP khu vực dịch vụ[2]; hiệu quả sản xuất toàn vùng được nâng cao về chất và lượng, đã huy động được các nguồn lực đầu tư, môi trường đầu tư được cải thiện đáng kể, nhiều dự án phát triển sản xuất – kinh doanh của vùng đã hấp dẫn, thu hút được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia[3]. Bên cạnh đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có nguồn lao động dồi dào[4], trình độ chuyên môn cao hơn mặt bằng chung của cả nước (chỉ tiêu sinh viên cao đẳng, đại học trong vùng là 340/10.000 dân, gấp 1,36 lần mức chung cả nước). Riêng thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung gần 40% tổng số cán bộ khoa học của cả nước, tạo ra lợi thế so sánh cho vùng, có tác động lan tỏa, cung cấp nguồn nhân lực cho các vùng khác của cả nước. Mặt khác, hệ thống kết cấu hạ tầng toàn vùng tiếp tục được đầu tư mở rộng và nâng cấp, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Cùng với đó, ngày 13/2/2014, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 252/QĐ-TTg, kinh tế vùng trong thời gian qua ngoài việc đem lại lợi ích kinh tế to lón cũng đã tác động tích cực đến hạ tầng kinh tế - xã hội tại các tỉnh, thành trong vùng, cụ thể:

  • Việc liên kết phát triển kinh tế vùng đã tạo ra một hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội cơ bản xung quanh các dự án như: cầu đường, trường học, trạm y tế...góp phần nâng cao mức sống, đời sống của người dân.
  • Thông qua các chương trình hợp tác, liên kết vùng và liên vùng đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề, hội chợ, triễn lãm, tuyên truyền...để quảng bá hình ảnh, tiềm năng và nhu cầu của các địa phương;
  • Một số ngành của các địa phương trong vùng đã chủ động phối hợp, hỗ trợ nhau thực hiện các chương trình hợp tác về: giáo dục – đào tạo, y tế, khoa học – công nghệ, nông nghiệp, công nghiệp...
  • Việc các doanh nghiệp đầu tư và hình thành những khu công nghiệp đã góp phần giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương và giảm bớt xu hướng di dân trong độ tuổi lao động vào thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị trong vùng.
  1. Một số hạn chế trong liên kết vùng
  • Chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa bộ, ngành với các địa phương thật sự hiệu quả trong điều hành cơ chế, chính sách cho vùng. Do vậy việc phối hợp trong công tác điều hành chỉ đạo còn chậm và chưa hiệu quả. Vai trò của Ban Chỉ đạo điều phối chưa phát huy hiệu quả, chưa tạo sự gắn kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa bộ, ngành và địa phương.
  • Giữa các tỉnh, thành trong vùng chưa tìm được cơ chế, giải pháp và tiếng nói chung trong phân công nhiệm vụ để phối hợp giải quyết những lĩnh vực cơ bản trong liên kết vùng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển kết nối hạ tầng giao thông...do đó sự phối hợp phát triển giữa các tỉnh, thành trong vùng và liên vùng chưa đồng bộ và thiếu thống nhất, dẫn đến việc phát huy thế mạnh của từng địa phương, của vùng và liên vùng chưa khoa học, ảnh hưởng đến phát huy thế mạnh của từng địa phương, của vùng, liên vùng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát triển bền vững.
  • Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giữa các tỉnh, thành trong vùng chưa được đầu tư đồng bộ. Các dự án do Trung ương đầu tư trên địa bàn các tỉnh trong vùng còn hạn chế và chậm triển khai, nhất là hạ tầng giao thông. Còn sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lao động chất lượng cao giữa các tỉnh thành dẫn đến sự phát triển không đồng đều trong phát triển nguồn nhân lực.
  1. Đề xuất chủ trương, cơ chế chính sách có tính đột phá

- Có cơ chế tài chính – ngân sách của vùng, tạo nguồn thu để xây dựng, phát triển vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm tài chính của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

- Quan tâm đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tương xứng với vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước;

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch vùng; các địa phương cần tích cực hơn trong phối hợp đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng.

- Ban hành các chính sách trong liên kết, hợp tác đào tạo giữa cơ sở dạy nghề, nhất là cơ sở công lập với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để tận dụng ưu thế về thiết bị, máy móc của doanh nghiệp và giải quyết đầu ra cho học viên, cho đối tượng là lao động trẻ vừa hoàn thành các chương trình đào tạo tại các trường.

- Xây dựng danh mục các công trình kết cấu hạ tầng trong các đề án, quy hoạch của các bộ, ngành để tạo động lực phát triển phải đi đôi với xây dựng phương án về vốn đầu tư trong kế hoạch trung, dài hạn của từng ngành, từng địa phương và có lộ trình thực hiện; phân công nhiệm vụ, chủ đầu tư cụ thể không để tình trạng kéo dài thời gian thực hiện các dự án đã có trong quy hoạch, đề án.

 

[1] Giai đoạn 2001 – 2005 là 1,56 lần (Vùng đạt 11,7%/năm; cả nước đạt 7,5%/năm); giai đoạn 2006-2010 là 1,57 lần (Vùng đạt 11%/năm; cả nước đạt 7%/năm); giai đoạn 2011 – 2014 là 1,79 lần (vùng đạt 10,2%/năm; cả nước đạt 5,7%/năm).

[2] Tỷ trọng GDP khu vực nông – lâm – thủy sản giảm từ 10,5% năm 2000 xuống còn 7,2% năm 2014; khu vực công nghiệp – xây dựng giảm từ 54,3% năm 2000 xuống còn 51,5% năm 2014; khu vực dịch vụ tăng từ 35,2% năm 2000 lên 41,3% năm 2014; Năm 2016, Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của cả vùng đạt  1.289.806 tỷ đồng, chiếm 36,1% cả nước.  

[3] Lũy kế đến 31/12/2016, theo số liệu của Tổng Cục thống kê, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã thu hút tổng cộng 12.933 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (còn hiệu lực) với tổng số vốn đăng ký là 139.066 triệu USD (chiếm 53,9% cả nước về số dự án và 40,7% cả nước về số vốn đăng ký).

[4] Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục thống kê, đến cuối năm 2016, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có hơn 11 triệu lao động đang làm việc chiếm 20,3% tổng số lao động đang làm việc của cả nước.

Mạnh Hùng

16 Tháng Giêng 2018 2:49:00 CH Danh mục: Thông báo nổi bật Tin Kinh Tế - Xã Hội

Thống kê truy cập

  • Người trực tuyến Người trực tuyến
    • Khách Khách 26
    • Thành viên Thành viên 0
    • Tổng Tổng 26
  • Tổng số lượt truy cập 1.583.016