MINH BẠCH - THÂN THIỆN - TRÁCH NHIỆM - HIỆU QUẢ

TÌM HIỂU VỀ CÁC HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP)

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế là một yêu cầu rất cấp thiết. Tuy nhiên, việc đầu tư này cần nguồn vốn rất lớn mà ngân sách nhà nước không thể đảm đương được. Do đó, Nhà nước cần hợp tác với những nhà đầu tư qua các hình thức, hợp đồng phù hợp để vừa có thêm nhiều nguồn lực phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng cho đất nước và cũng mang lại lợi ích cho Nhà đầu tư.

Trong thời gian vừa qua, mặc dù Chính quyền Thành phố đã triển khai thực hiện các mô hình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp tác công tư và đã thực hiện nhiều chính sách thu hút đầu tư của khu vực tư nhân cho việc phát triển các cơ sở hạ tầng theo các quy định của Chính Phủ và các chính sách như đổi đất lấy hạ tầng…. Tuy nhiên, sự tham gia của khu vực tư nhân đầu tư trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng vẫn còn rất hạn chế

Khung pháp lý hiện tại về Hợp tác công tư (PPP) được đánh giá là tương đối rõ ràng, đầy đủ và hướng đến sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn những quy định chưa phù hợp với thực tiễn triển khai. Chính phủ đã giao Bộ KH&ĐT chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các Nghị định 15/CP và Nghị định 30/CP nhằm kịp thời tháo gỡ những vướng mắc. Việc ban hành các thông tư, văn bản hướng dẫn được đánh giá là tương đối chậm trễ, nguyên nhân khách quan là do chuyên môn về PPP còn mới, khó, trải rộng khắp các lĩnh vực trong khi năng lực, kinh nghiệm cán bộ, công chức còn hạn chế nên cần thời gian để nghiên cứu, lấy ý kiến

Bên cạnh những vướng mắc về quy trình, thủ tục đầu tư nhiều Nhà đầu tư vẫn chưa tìm thấy được sự hấp dẫn qua hợp đồng dự án PPP. Các dự án đã ký kết trong thời gian qua đa phần là các hợp đồng BOT (xây dựng - kinh doanh – chuyển giao), hợp đồng BT (đổi đất lấy hạ tầng). Để thu hút sự quan tâm, tham gia từ phía các nhà đầu tư khu vực tư nhân, cơ quan thực hiện cần nghiên cứu lựa chọn những hình thức hợp đồng tối ưu nhất đối với từng dự án cụ thể

Một số đặc điểm của các hình thức hợp đồng PPP:

- Kinh doanh – Quản lý (O&M): hợp đồng này giao cho khu vực tư nhân phần lớn hoặc tất cả công tác vận hành và bảo trì cơ sở vật chất hoặc dịch vụ công. Mặc dù nghĩa vụ cuối cùng trong việc cung cấp dịch vụ vẫn thuộc về cơ quan nhà nước, song việc kiểm soát hoạt động hằng ngày được giao cho khu vực tư nhân. Thông thường khu vực tư nhân không bị yêu cầu phải đầu tư vốn. Thời hạn hợp đồng ngắn (3 đến 5 năm)

- Xây dựng – Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT): hợp đồng bao gồm xây dựng cơ sở vật chất cho Nhà nước thuê và chuyển giao cơ sở vật chất sau khi đã thu hồi được khoản đầu tư, hợp đồng này đòi hỏi khu vực tư nhân phải bỏ chi phí vốn và vận hành

- Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ (BTL): hợp đồng bao gồm xây dựng cơ sở vật chất cho Nhà nước thuê để thu hồi khoản đầu tư.

* Hợp đồng BLT và BTL nên được dùng cho các dự án mà nhà đầu tư có thể không sẵn sàng chịu rủi ro về nhu cầu dịch vụ. Trong cả hai hợp đồng, nhà đầu tư sẽ không phải chịu rủi ro nhu cầu. Sự khác biệt giữa hai hợp đồng là trong hợp đồng BTL, tài sản sẽ được chuyển giao cho nhà nước ngay sau khi kết thúc xây dựng dự án, trong khi ở hợp đồng BLT, tài sản chỉ được chuyển giao cho nhà nước sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng.

- Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT); Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO): khu vực tư nhân cấp vốn và xây dựng để chuyển giao; chuyển giao sở hữu tài sản sau khi kết thúc vận hành thử; vận hành công trình dự án theo một thỏa thuận giữa hai bên.

* Trong hai loại hợp đồng BOT, BTO nhà đầu tư phải chịu rủi ro cao về doanh thu từ thu phí đối tượng sử dụng. Sự khác biệt giữa hai hợp đồng này là trong hợp đồng BTO, tài sản được chuyển giao cho nhà nước ngay sau khi kết thúc xây dựng dự án, trong khi ở hợp đồng BOT, tài sản chỉ được chuyển giao cho nhà nước sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng. Thời hạn hợp đồng thường dài từ (20 đến 30 năm).

- Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (BOO): đây là loại hợp đồng duy nhất mà quyền sở hữu tài sản trong hợp đồng thuộc về khu vực Tư nhân. Nhà đầu tư có vai trò cấp vốn, xây dựng, cung cấp dịch vụ, quản lý bảo trì công trình, dự án.

- Xây dựng – Chuyển giao (BT): đây là loại hợp đồng rất được nhà đầu tư quan tâm, nhà đầu tư có vai trò cấp vốn, xây dựng dự án, công trình và chuyển giao quyền sở hữu công trình dự án cho nhà nước sau khi dự án hoàn thành. Nhà nước sẽ dùng quỹ đất khác có giá trị tương đương để thanh toán cho nhà đầu tư.

Lựa chọn hình thức hợp đồng là một trong những bước quan trọng nhất trong việc xây dựng chiến lược đầu tư. Cơ quan thực hiện cần có hiểu biết vững chắc về mục tiêu của dự án, các hạn chế và những rủi ro chính trong dự án để lựa chọn hình thức hợp đồng tối ưu. Để xác định hình thức hợp đồng phù hợp, cơ quan thực hiện cần cân nhắc các yếu tố sau:

- Tạo điều kiện thuận lợi để đạt được hoặc tối ưu hóa các mục tiêu và kết quả của dự án.

- Đạt được sự cân bằng phù hợp giữa mức độ kiểm soát mà cơ quan thực hiện yêu cầu và mức độ rủi ro tối ưu mà cơ quan thực hiện có thể chịu.

- Tối ưu hóa tiến độ, chi phí và chất lượng kết quả đầu ra của dự án.

- Phù hợp nhất với các đặc điểm của dự án.

- Cung cấp hiệu quả đầu tư cao nhất.

- Đạt được mục tiêu quản lý rủi ro cho cơ quan thực hiện và dự án.

- Cung cấp cấu trúc phân bổ rủi ro giữa các bên phù hợp nhất.

Tư vấn khuyến nghị rằng hình thức hợp đồng nên được lựa chọn bằng phương pháp đánh giá hai bước.

- Bước 1. Xác định danh sách ngắn các Hình thức hợp đồng phù hợp. Cơ quan thực hiện cần xem xét bối cảnh của dự án, mục tiêu và đặc điểm của dự án để xác định hình thức hợp đồng nào sẽ có khả năng đáp ứng các yêu cầu nêu trên. Trong hầu hết các trường hợp, sẽ có hai ba hình thức hợp đồng bộc lộ rõ tính khả thi và khả năng đạt được các kết quả yêu cầu cao hơn các phương thức còn lại.

- Bước 2. Phân tích các Hình thức hợp đồng: đánh giá khách quan từng hình thức hợp đồng trong danh sách ngắn theo một bộ tiêu chí đánh giá, được xây dựng bởi cơ quan thực hiện và được thiết kế riêng cho một dự án cụ thể, có xét đến mục tiêu của dự án và bất kỳ hạn chế nào có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn hình thức hợp đồng. Các tiêu chí này có thể là:

+ Cấu trúc phân bổ rủi ro tối ưu, khả năng của hình thức hợp đồng trong việc cho phép phân bổ rủi ro tại mỗi giai đoạn của dự án cho bên có khả năng quản lý rủi ro tốt nhất, và thực thi cấu trúc phân bổ rủi ro đó bằng các biện pháp hỗ trợ tài chính phù hợp.

+ Khả năng chi trả và ngân sách, xem xét về mọi hạn chế ngân sách và thời điểm các dòng tiền phát sinh, khả năng hỗ trợ của nguồn vốn của nhà nước và nhà nước phải biết rõ giá trị hỗ trợ.

+ Sự quan tâm của thị trường, khả năng của hợp đồng trong việc thu hút sự quan tâm của thị trường, từ đó cho phép quá trình đấu thầu có tính cạnh tranh cao.

+ Chi phí vòng đời dự án, khả năng của hình thức hợp đồng trong việc mang lại các lợi ích về chi phí vòng đời dự án, ví dụ như xem xét tổng chi phí bảo trì và chi phí nâng cấp cải tạo vốn hóa với chi phí thiết kế và xây dựng khi so sánh giữa các hình thức hợp đồng.

+ Thời điểm, xem xét các mục tiêu hoặc hạn chế về tiến độ của dự án, khả năng của hình thức hợp đồng trong việc cho phép cơ quan thực hiện đạt được các mục tiêu về tiến độ của mình.

+ Mức độ linh hoạt, khả năng của hợp đồng trong việc mang lại sự linh hoạt cho nhà nước để đáp ứng các mục tiêu hoặc yêu cầu có thể thay đổi trong vòng đời dự án.

+ Khả năng cải tiến, trong trường hợp dự án có cho phép các đổi mới cải tiến về thiết kế hay phương pháp thực hiện, cần xem xét khả năng của hình thức hợp đồng trong việc khuyến khích các sáng kiến cải tiến đó.

+ Năng lực của cơ quan thực hiện, hình thức hợp đồng có yêu cầu cơ quan thực hiện tăng cường năng lực đấu thầu của mình và việc tăng cường năng lực này có khả thi không.

- Qua việc đánh giá bằng các tiêu chí nêu trên, cơ quan thực hiện có thể xác định được hình thức hợp đồng phù hợp nhất cho dự án Hợp tác công tư.

Sơn Thông

20 Tháng Mười Hai 2017 3:28:00 CH Danh mục: Thông báo nổi bật Tin Đầu Tư

Thống kê truy cập

  • Người trực tuyến Người trực tuyến
    • Khách Khách 102
    • Thành viên Thành viên 1
    • Tổng Tổng 103
  • Tổng số lượt truy cập 1.700.606